Social Media

29 Th1 2023

Bài viết

Chưa phân loại

Cơ giới hóa đồng bộ trong khai thác than lò chợ

Những năm gần đây, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã đẩy mạnh áp dụng công nghệ khai thác hiện đại, tăng dần tỷ lệ than sản xuất bằng cơ giới hóa. Trong đó, các lò chợ cơ giới hóa đồng bộ (CGHĐB) với chỉ tiêu công nghệ đạt cao hơn so với các loại hình khai thác truyền thống trong cùng điều kiện đã giúp TKV tiến gần hơn đến mô hình mỏ hầm lò thông minh, ít người, trả lương cao.

Hiện nay, TKV đang có 11 dây chuyền CGHĐB khai thác lò chợ, gồm: 6 dây chuyền CGHĐB khai thác lò chợ khai thác lớp trụ thu hồi than nóc áp dụng đối với vỉa dày, dốc thoải đến nghiêng; công suất từ 300-1.200 nghìn tấn/năm; 4 dây chuyền CGHĐB khai thác lò chợ khấu hết chiều dầy vỉa trung bình, dốc thoải đến nghiêng, công suất lò chợ 180-600 nghìn tấn/năm và 1 dây chuyền CGHĐB khai thác lò chợ khai thác vỉa dầy trung bình, dốc; công suất lò chợ 120 nghìn tấn/năm. Sản lượng than từ các lò chợ cơ giới hóa đạt khoảng 15% tổng sản lượng than nguyên khai của TKV.

Yếu tố đồng bộ trong khai thác than lò chợ chỉ sự liên hoàn của một dây chuyền sản xuất, từ công tác chống giữ, hoạt động khấu than, đến khâu vận tải than ra khỏi lò chợ. Những khâu này được kết nối với nhau bằng một hệ thống máy móc, thiết bị hiện đại, người vận hành chủ yếu thao tác bằng điều khiển cầm tay. Trong một lò chợ, hệ thống đồng bộ sẽ cho sản lượng than khai thác cao, năng suất lao động tăng và mức độ an toàn của diện sản xuất được đảm bảo.

Lò chợ cơ giới hóa đồng bộ ở Công ty Than Hạ Long – TKV.

Đại diện Ban Kỹ thuật – Công nghệ mỏ TKV, kỹ sư Nguyễn Văn Hòa, đánh giá, các chỉ tiêu công nghệ của những lò chợ CGHĐB này đạt tốt hơn so với các loại hình công nghệ khai thác truyền thống trong cùng điều kiện. Công suất, sản lượng than khai thác của lò chợ CGHĐB cao gấp 1,5-5 lần so với lò chợ giá khung và bằng 2-6 lần so với lò chợ thủy lực đơn. Năng suất lao động trực tiếp trong các lò chợ này duy trì từ 22,6-32 tấn/công, cao gấp 4-5 lần lò chợ giá xích, giá khung.

Ngoài ra, tỷ lệ tổn thất than ở lò chợ CGHĐB cũng thấp hơn so với các loại hình công nghệ khác từ 5-17,5%. Đặc biệt, công tác an toàn trong các lò chợ CGHĐB được nâng cao, do công nhân làm việc dưới hệ thống liên kết các giàn chống, không phải sử dụng khoan nổ mìn so với các công nghệ khai thác truyền thống.

Ông Vũ Ngọc Thắng, Giám đốc Công ty CP Than Hà Lầm cho biết: Với điều kiện địa chất hiện nay của mỏ Than Hà Lầm, nếu áp dụng công nghệ khai thác truyền thống thì năng suất khai thác cũng như tỷ lệ thu hồi tài nguyên chỉ đạt từ 30-40%/năm. Tuy nhiên, với hệ thống giàn chống tự hành, máy khấu than, hệ thống máng cào, cầu chuyển tải và hệ thống băng tải co giãn của lò chợ CGHĐB, năng suất, sản lượng hai công trường cơ giới hóa của mỏ đều tăng từ 3-5 lần so với khai thác bằng công nghệ truyền thống.

Cơ giới hóa và hiện đại hóa khai thác than hầm lò là sự nghiệp vô cùng quan trọng của ngành than để tăng sản lượng, giảm tính chất lao động nặng nhọc mà nhiều thế hệ lãnh đạo, thợ mỏ ngành than mong đợi.

Trong tương lai gần, sản lượng than của Tập đoàn sẽ tập trung chủ yếu ở các mỏ hầm lò, do chủ trương giảm dần tiến tới chấm dứt hoạt động khai thác than lộ thiên. Bối cảnh đó buộc các mỏ hầm lò của TKV sẽ phải khai thác ở những tầng than sâu hơn hiện tại. CGHĐB sẽ là bước đi chiến lược của TKV trong mục tiêu hiện đại hóa mô hình mỏ hầm lò và mục tiêu phát triển bền vững trong tương lai.

Tuy nhiều ưu điểm là vậy, nhưng cơ giới hóa nói chung và CGHĐB nói riêng không phải công nghệ có thể áp dụng đại trà, mà đặc biệt phụ thuộc vào tính phù hợp của trữ lượng vỉa than, điều kiện địa chất, chiều dày vỉa, tiết diện lò chợ và năng lực đầu tư.

Anh Nguyễn Văn Hòa, Ban Kỹ thuật – Công nghệ mỏ TKV phân tích thêm: Điều kiện địa chất các vỉa than của Việt Nam nói chung khá phức tạp (nhiều phay phá, đứt gãy; cháy nội sinh, góc dốc và mức độ biến động chiều dầy, góc dốc vỉa lớn…). Trữ lượng các vỉa than cũng như diện khai thác có điều kiện thuận lợi để nghiên cứu áp dụng CGHĐB trong cùng mức, cùng tầng của mỗi mỏ không lớn, hạn chế cho việc đầu tư áp dụng các dây chuyền này.

Chính vì vậy, để đảm bảo hiệu quả đầu tư, TKV và các mỏ cần làm tốt công tác khảo sát, thăm dò, đánh giá trữ lượng, địa chất trước khi áp dụng loại hình công nghệ này.

Nguồn: Baoquangninh.com.vn

Bài viết liên quan

Bình luận